Trẻ em bao nhiêu tuổi được đi máy bay? Trẻ em đi máy bay cần giấy tờ gì?

Người lớn khi đi máy bay thì chỉ cần hộ chiếu, thẻ căn cước hoặc CMND là được. Còn trẻ em đi máy bay cần giấy tờ gì? Trẻ em bao nhiêu tuổi được đi máy bay? Đây là những câu hỏi thường gặp của các bậc cha mẹ có con nhỏ.

Trẻ em bao nhiêu tuổi được đi máy bay?

Đa phần các hãng hàng không tại Việt Nam nhận vận chuyển hành khách là trẻ em có độ tuổi từ 2 tuần tuổi trở lên. Độ tuổi của trẻ được tính theo thời điểm máy bay khởi hành.

trẻ em mấy tuổi được đi máy bay

Theo các chuyên gia y tế hàng không khuyến cáo, trẻ em từ 2 tháng tuổi trở lên các bậc cha mẹ mới nên cho trẻ đi máy bay. Bởi khi đó hệ miễn dịch của trẻ mới đủ điều kiện thích nghi với các thay đổi khi bay. Tuy nhiên, trong trường hợp bắt buộc phải di chuyển bằng máy bay đối với những trẻ dưới 2 tháng tuổi, tốt nhất cha mẹ của bé nên đưa con mình đi khám trước thời gian bay khoảng 1 tuần.

Trẻ em đi máy bay cần giấy tờ gì?

Có 2 mốc quan trọng để phân định thủ tục giấy tờ cho trẻ em khi đi máy bay

Đối với trẻ em dưới 02 tuổi

Trẻ em dưới 2 tuổi khi đi máy bay phải có giấy khai sinh, hoặc giấy chứng sinh đối với trẻ dưới 1 tháng tuổi.

Các chứng nhận về sức khỏe, đủ điều kiện để bay có thời hạn 1 tuần trước khi bay.

Đối với trẻ em dưới 14 tuổi

  • Hộ chiếu riêng hoặc cùng hộ chiếu với bố mẹ.
  • Giấy khai sinh
  • Giấy xác nhận của tổ chức xã hội đối với trẻ em do tổ chức xã hội đang nuôi dưỡng.

Các giấy tờ trên phải đảm bảo điều kiện: Là bản chính hoặc bản sao có chứng thực và còn giá trị sử dụng.

trẻ em đi máy bay cần những giấy tờ gì

Giá vé dành cho trẻ em

Mỗi hãng hàng không sẽ có một mức giá dành cho trẻ em khác nhau. Cụ thể là:

Giá vé các chuyến bay nội địa của hãng hàng không Vietjet:

  • Trẻ em dưới 2 tuổi là 234,000 VND
  • Trẻ em từ 2 – dưới 12 tuổi thấp hơn giá vé người lớn khoảng 60,000 VND/vé.

Giá vé của hãng hàng không Jetstar Pacific:

  • Trẻ em dưới 2 tuổi là 274,000 VND
  • Trẻ em từ 2 – dưới 12 tuổi thấp hơn người lớn khoảng 60,000 VND/vé.

Giá vé của hãng hàng không Bamboo Airways:

  • Trẻ em dưới 2 tuổi là 234,000 VND/vé
  • Trẻ em từ 2 – dưới 12 tuổi đối với vé phổ thông thấp người lớn 82,000 VND/vé, hạng Plus sẽ bằng 75% giá vé người lớn.

Giá vé của hãng hàng không Vietnam Airlines:

  • Trẻ em dưới 2 tuổi có giá vé bằng 10% giá vé người lớn
  • Trẻ em từ 2 – dưới 12 tuổi mua vé 90% giá vé người lớn.

Trẻ em có bao nhiêu quyền? Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em và Luật trẻ em 2016

Như chúng ta đã biết, trẻ em như búp trên cành, cần được bảo vệ. Hiện nay, tình trạng trẻ em bị xâm hại rất phổ biến, nhất là vấn đề tình dục. Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em là cơ sở của tất cả các công việc của UNICEF. Đây là tuyên bố đầy đủ nhất về quyền trẻ em từng được công bố và là hiệp ước quốc tế về quyền con người được phê chuẩn rộng rãi nhất trong lịch sử.

Trẻ em có bao nhiêu quyền trong Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền Trẻ em

Công ước có 54 điều khoản bao gồm tất cả các khía cạnh của cuộc sống của trẻ.

Mỗi đứa trẻ sinh ra đều có quyền, bất kể dân tộc, giới tính, tôn giáo, ngôn ngữ, khả năng hay bất kỳ tình trạng nào khác.

Tất cả các quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc ngoại trừ Hoa Kỳ đã phê chuẩn Công ước. Công ước có hiệu lực tại Việt Nam vào ngày 20 tháng 12 năm 1990. Có bốn điều trong công ước được xem là đặc biệt. Những điều này được coi là “Nguyên tắc chung”, giúp giải thích cho tất cả các điều khác và đóng một vai trò cơ bản trong việc thực hiện tất cả các quyền trong Công ước.

4 nhóm quyền trẻ em

  1. Không phân biệt đối xử
  2. Lợi ích tốt nhất của trẻ
  3. Quyền tồn tại và phát triển cuộc sống
  4. Quyền được lắng nghe

Quyền trẻ em

Ngoài ra, còn có “2 nghị định không bắt buộc” là các quyền đặc biệt hơn cho trẻ em nhưng không bắt buộc đối với các quốc gia bao gồm:

  1. Nghị định thư không bắt buộc về sự tham gia của trẻ em trong xung đột vũ trang
  2. Nghị định thư không bắt buộc về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và nội dung khiêu dâm trẻ em
  3. Nghị định thư không bắt buộc về thủ tục khiếu nại vi phạm quyền trẻ em

Xem đầy đủ Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em

Luật trẻ em 2016

Ngày 01/06/2016 Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật trẻ em, đảm bảo quyền lợi cho tất cả các em nhỏ. Theo Luật trẻ em năm 2016, trẻ em được xác định là những người dưới 16 tuổi. Nhóm đối tượng này sẽ có 25 quyền gắn với các điều Luật tương ứng sau:

Điều 12. Quyền sống

Trẻ em có quyền được bảo vệ tính mạng, được bảo đảm tốt nhất các Điều kiện sống và phát triển.

Điều 13. Quyền được khai sinh và có quốc tịch

Trẻ em có quyền được khai sinh, khai tử, có họ, tên, có quốc tịch; được xác định cha, mẹ, dân tộc, giới tính theo quy định của pháp luật.

Điều 14. Quyền được chăm sóc sức khỏe

Trẻ em có quyền được chăm sóc tốt nhất về sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch vụ phòng bệnh và khám bệnh, chữa bệnh.

Điều 15. Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng

Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển toàn diện.

Điều 16. Quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu

  1. Trẻ em có quyền được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân.
  2. Trẻ em được bình đẳng về cơ hội học tập và giáo dục; được phát triển tài năng, năng khiếu, sáng tạo, phát minh.

Điều 17. Quyền vui chơi, giải trí

Trẻ em có quyền vui chơi, giải trí; được bình đẳng về cơ hội tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với độ tuổi.

Điều 18. Quyền giữ gìn, phát huy bản sắc

  1. Trẻ em có quyền được tôn trọng đặc Điểm và giá trị riêng của bản thân phù hợp với độ tuổi và văn hóa dân tộc; được thừa nhận các quan hệ gia đình.
  2. Trẻ em có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc, phát huy truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc mình.

Điều 19. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Trẻ em có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào và phải được bảo đảm an toàn, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

Điều 20. Quyền về tài sản

Trẻ em có quyền sở hữu, thừa kế và các quyền khác đối với tài sản theo quy định của pháp luật.

Điều 21. Quyền bí mật đời sống riêng tư

  1. Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.
  2. Trẻ em được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác; được bảo vệ và chống lại sự can thiệp trái pháp luật đối với thông tin riêng tư.

Điều 22. Quyền được sống chung với cha, mẹ

Trẻ em có quyền được sống chung với cha, mẹ; được cả cha và mẹ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, trừ trường hợp cách ly cha, mẹ theo quy định của pháp luật hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

Khi phải cách ly cha, mẹ, trẻ em được trợ giúp để duy trì mối liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ, gia đình, trừ trường hợp không vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

Điều 23. Quyền được đoàn tụ, liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ

Trẻ em có quyền được biết cha đẻ, mẹ đẻ, trừ trường hợp ảnh hưởng đến lợi ích tốt nhất của trẻ em; được duy trì mối liên hệ hoặc tiếp xúc với cả cha và mẹ khi trẻ em, cha, mẹ cư trú ở các quốc gia khác nhau hoặc khi bị giam giữ, trục xuất; được tạo Điều kiện thuận lợi cho việc xuất cảnh, nhập cảnh để đoàn tụ với cha, mẹ; được bảo vệ không bị đưa ra nước ngoài trái quy định của pháp luật; được cung cấp thông tin khi cha, mẹ bị mất tích.

Điều 24. Quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi

  1. Trẻ em được chăm sóc thay thế khi không còn cha mẹ; không được hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ; bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang vì sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em.
  2. Trẻ em được nhận làm con nuôi theo quy định của pháp luật về nuôi con nuôi.

Điều 25. Quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục

Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị xâm hại tình dục.

Điều 26. Quyền được bảo vệ để không bị bóc lột sức lao động

Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bóc lột sức lao động; không phải lao động trước tuổi, quá thời gian hoặc làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của pháp luật; không bị bố trí công việc hoặc nơi làm việc có ảnh hưởng xấu đến nhân cách và sự phát triển toàn diện của trẻ em.

Điều 27. Quyền được bảo vệ để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc

Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc làm tổn hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ em.

Điều 28. Quyền được bảo vệ để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt

Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt.

Điều 29. Quyền được bảo vệ khỏi chất ma túy

Trẻ em có quyền được bảo vệ khỏi mọi hình thức sử dụng, sản xuất, vận chuyển, mua, bán, tàng trữ trái phép chất ma túy.

Điều 30. Quyền được bảo vệ trong tố tụng và xử lý vi phạm hành chính

Trẻ em có quyền được bảo vệ trong quá trình tố tụng và xử lý vi phạm hành chính; bảo đảm quyền được bào chữa và tự bào chữa, được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; được trợ giúp pháp lý, được trình bày ý kiến, không bị tước quyền tự do trái pháp luật; không bị tra tấn, truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể, gây áp lực về tâm lý và các hình thức xâm hại khác.

Điều 31. Quyền được bảo vệ khi gặp thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang

Trẻ em có quyền được ưu tiên bảo vệ, trợ giúp dưới mọi hình thức để thoát khỏi tác động của thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang.

Điều 32. Quyền được bảo đảm an sinh xã hội

Trẻ em là công dân Việt Nam được bảo đảm an sinh xã hội theo quy định của pháp luật phù hợp với Điều kiện kinh tế – xã hội nơi trẻ em sinh sống và Điều kiện của cha, mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em.

Điều 33. Quyền được tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội

Trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ, kịp thời, phù hợp; có quyền tìm kiếm, thu nhận các thông tin dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật và được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành, nhu cầu, năng lực của trẻ em.

Điều 34. Quyền được bày tỏ ý kiến và hội họp

Trẻ em có quyền được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về các vấn đề liên quan đến trẻ em; được tự do hội họp theo quy định của pháp luật phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành và sự phát triển của trẻ em; được cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân lắng nghe, tiếp thu, phản hồi ý kiến, nguyện vọng chính đáng.

Điều 35. Quyền của trẻ em khuyết tật

Trẻ em khuyết tật được hưởng đầy đủ các quyền của trẻ em và quyền của người khuyết tật theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ, chăm sóc, giáo dục đặc biệt để phục hồi chức năng, phát triển khả năng tự lực và hòa nhập xã hội.

Điều 36. Quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn

Trẻ em không quốc tịch cư trú tại Việt Nam, trẻ em lánh nạn, tị nạn được bảo vệ và hỗ trợ nhân đạo, được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Xem đầy đủ văn bản Luật trẻ em 2016

Trẻ em bao nhiêu độ là sốt? Cách hạ sốt và khi nào cần đưa đến bệnh viện

Thân nhiệt của trẻ thường không ổn định và dao động nhẹ trong ngày. Cụ thể, thân nhiệt sẽ hơi thấp vào buổi sáng và cao hơn vào chiều tối. Khi chạy, nhảy, đùa nghịch, hoặc vận động mạnh thì thân nhiệt của bé cũng thay đổi đáng kể. Vậy trẻ em bao nhiêu độ là sốt?

Thân nhiệt bình thường của trẻ là bao nhiêu?

Mỗi đứa trẻ sẽ có mức nhiệt độ cơ thể riêng và thay đổi tùy thuộc vào thời tiết và thời gian trong ngày. Đặc biệt trên các vùng cơ thể khác nhau, nhiệt độ của trẻ cũng có thể chênh lệch từ 1 đến 2°C.

Nhiệt độ bình thường của một đứa trẻ trung bình rơi vào khoảng 36,5 đến 37,5°C. Nhiệt độ đo được ở miệng thường là 37°C. Trong khi nhiệt độ đo được ở mông thường là 37,5 độ C.

Trẻ em bao nhiêu độ là sốt?

Sốt là tình trạng thân nhiệt cao hơn 1°C so với nhiệt độ bình thường của cơ thể. Cụ thể khi sốt, nhiệt độ cơ thể của trẻ trên 38°C khi đo ở hậu môn hoặc miệng, trên 37,5°C khi đo ở nách.

Trẻ bao nhiêu độ là sốt

Sốt không phải là bệnh mà chỉ là một triệu chứng do nhiều nguyên nhân gây ra, phần lớn là do nhiễm trùng. Nhiệt độ khi sốt cao hay thấp không phụ thuộc vào mức độ bệnh nặng hay nhẹ. Có khi sốt cao nhưng không đồng nghĩa với bệnh nặng. Sốt cao > 41°C khiến cơ thể của trẻ có nguy cơ co giật và tổn thương não.

Cách xử trí khi trẻ bị sốt

Khi trẻ sốt, cha mẹ không nên quá lo lắng, có thể tự hạ sốt cho trẻ bằng những cách sau:

  • Lau mát
  • Uống thuốc hạ sốt.
  • Uống thêm nước hoặc cho trẻ bú sữa mẹ.
  • Mặc quần áo mỏng.
  • Ở trong phòng thoáng, thông gió, không đóng kín cửa.

Cách lau mát

Khi trẻ bị sốt, bố mẹ có thể lau mát cho con. Đây là cách rất hiệu quả nếu được làm đúng cách. Theo đó, thay vì dùng nước mát hay nước lạnh để lau, các mẹ nên dùng nước ấm.

Cách 1: Lau bằng khăn

Pha nước ấm, lấy 5 chiếc khăn nhúng nước, vắt nhẹ để 2 khăn vào 2 hõm nách, 2 khăn vào 2 bên bẹn, 1 khăn lau toàn thân. Di chuyển và thay khăn nhúng nước liên tục cho đến khi thân nhiệt của trẻ giảm.

Lưu ý: không dùng cách này khi trời đang lạnh. Vì lạnh làm nước trong khăn nguội rất nhanh, làm co mạch máu gây giữ nhiệt trong cơ thể.

Cách 2: Tắm nước ấm (Tốt hơn)

Cho trẻ ngồi trong chậu nước ấm và dội nước ấm khắp người. Sau 5-7 phút, lau khô và mặc quần áo mỏng, thoáng cho trẻ. Đồng thời cần quan sát và theo dõi trẻ xem có biểu hiện khác kèm theo hay không.

Cách dùng thuốc hạ sốt

Khi trẻ sốt vừa hoặc sốt cao và khi lau mát không hiệu quả, bố mẹ cần cho trẻ uống thuốc có paracetamol liều 10-15 mg/kg cân nặng/lần. Cách nhau 4-6 giờ/lần nếu còn sốt. Trong trường hợp trẻ không uống như bị nôn ói thì có thể dùng viên đưa vào hậu môn với liều lượng như trên.

Khi nào trẻ sốt cần đưa đến bệnh viện?

Cần đưa trẻ đến bệnh viện khi:

  • Trẻ có các dấu hiệu bất thường như: Không chơi, li bì, khó đánh thức, co giật, thở nhanh, thở khó, thở bất thường, tiêu chảy, phân có nhày máu.
  • Sốt cao không hạ.
  • Sốt kéo dài trên 2 ngày.
  • Trẻ sơ sinh dưới 2 tháng tuổi.

Tổ chức WHO là gì? Tổ chức Y tế Thế giới lịch sử, vai trò và nhiệm vụ

Tổ chức Y tế Thế giới WHO là viết tắt của World Health Organization, với tên tiếng Pháp là Organisation mondiale de la santé (OMS). WHO đóng vai trò thẩm quyền điều phối các vấn đề sức khỏe và y tế cộng đồng trên bình diện quốc tế.

WHO là tổ chức gì?

WHO là một cơ quan thuộc Liên Hiệp Quốc với tên tiếng Anh đầy đủ là World Health Organization. WHO đóng vai trò điều phối các vấn đề liên quan đến sức khỏe và y tế cộng đồng trên toàn quốc tế. WHO tham gia giúp đỡ các nước thành viên, cung cấp những thông tin chính xác trong lĩnh vực sức khỏe con người, tổ chức này cũng đứng ra để giải quyết những vấn đề cấp bách về sức khỏe cộng đồng và dịch bệnh của con người.

Nhiệm vụ của WHO

Nhiệm vụ của Tổ chức Y tế thế giới là giúp mọi người trên toàn thế giới có được sức khoẻ tốt nhất. Từ năm 1977, WHO đề ra khẩu hiệu “Sức khoẻ cho tất cả mọi người” và coi đây là ưu tiên cao nhất của tổ chức này. Để đạt được điều ày, WHO đã đề ra 4 định hướng chiến lược sau:

  • Giảm tỉ lệ tử vong, tỉ lệ mắc bệnh và tật nguyền, đặc biệt là người nghèo, và người khó khăn.
  • Thúc đẩy lối sống lành mạnh và giảm các yếu tố gây nguy cơ cho sức khoẻ con người.
  • Xây dựng cơ sở hạ tầng y tế, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ, đáp ứng các nhu cầu chính đáng của người dân.
  • Xây dựng môi trường thể chế và chính sách thuận lợi trong ngành y tế, đẩy mạnh có hiệu quả và vị thế của ngành y tế.

Quá trình hình thành và phát triển

WHO thành lập vào ngày 7 tháng 4 năm 1948. Tiền thân của WHO là Tổ chức Sức khoẻ. WHO có trụ sở đặt tại Geneva, Thụy Sĩ.

Thành lập 7 tháng 4 năm 1948
Trụ sở Geneva, Thụy Sĩ
Trang web https://www.who.int/

Tính đến năm 2015, WHO có 194 quốc gia và vùng lãnh thổ là thành viên. Đại hội đồng Liên Hợp Quốc là cơ quan ra quyết định tối cao của tổ chức WHO, họp thường niên vào tháng 5 tại Geneva, Thuỵ Sĩ, với sự tham dự của tất cả các thành viên.

logo WHO

Kể từ khi được thành lập, Tổ chức Y tế thế giới đã đóng vai trò hàng đầu trong việc loại trừ bệnh đậu mùa. Ưu tiên hàng đầu hiện nay của WHO bao gồm:

  • Các bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là HIV/AIDS, Bệnh Ebola, sốt rét và lao.
  • Giảm thiểu những tác động của bệnh không truyền nhiễm.
  • Theo dõi sức khoẻ sinh sản và tình dục, sự phát triển và tuổi già.
  • Dinh dưỡng, an ninh lương thực và ăn uống lành mạnh.
  • Sức khỏe nghề nghiệp.
  • Lạm dụng thuốc kháng sinh.
  • Thúc đẩy sự phát triển của các báo cáo, các ấn phẩm và kết nối mạng toàn cầu.

Năm 1966, WHO chuyển trụ sở từ Ariana tại trụ sở Liên Hiệp Quốc sang một trụ sở mới được xây dựng ở nơi khác ở Geneva.

Năm 1974, Chương trình Mở rộng về tiêm chủng và Chương trình kiểm soát bệnh giun chỉ đã được bắt đầu, một sự hợp tác quan trọng giữa Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) và Ngân hàng Thế giới (WB).

Năm 1977, danh sách đầu tiên của các loại thuốc thiết yếu đã được đưa ra, và một năm sau đó, mục tiêu đầy tham vọng “Sức khỏe cho tất cả” đã được tuyên bố.

Năm 1986, WHO bắt đầu chương trình toàn cầu về HIV/AIDS. Hai năm sau, việc ngăn chặn sự phân biệt đối xử với những người mắc bệnh đã được đưa ra và năm 1996 UNAIDS được thành lập.

Năm 1988, Sáng kiến ​​xóa sổ bại liệt toàn cầu được thành lập.

Năm 1998, Tổng giám đốc WHO nhấn mạnh đến sự sống còn của trẻ em, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, tăng tuổi thọ và giảm tỷ lệ “tai họa” như bệnh đậu mùa và bệnh bại liệt trong lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập WHO. Tuy nhiên, ông đã chấp nhận rằng cần phải làm nhiều hơn để hỗ trợ sức khỏe bà mẹ.

Năm 2000, Quan hệ đối tác ngăn chặn bệnh lao đã được tạo ra cùng với việc xây dựng các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc . Năm 2001, sáng kiến ​​về bệnh sởi đã được hình thành và được ghi nhận là đã giảm 68% tử vong do căn bệnh này vào năm 2007. Năm 2002, Quỹ Toàn cầu chống AIDS, Lao và Sốt rét đã được lập ra để cải thiện các nguồn lực hiện có. Năm 2006, tổ chức này đã chứng thực giải pháp phòng chống HIV/AIDS chính thức đầu tiên trên thế giới tại Zimbabwe, là cơ sở để phòng ngừa, điều trị toàn cầu và hỗ trợ cho kế hoạch chống lại đại dịch AIDS .

Ngày quốc tế do WHO khởi xướng

Ngày Tên Tên tiếng Anh
4/02 Ngày ung thư thế giới World Cancer Day
24/03 Ngày Thế giới phòng chống lao World Tuberculosis Day
7/04 Ngày Sức khỏe Thế giới World Health Day
24-30/04 Tuần Tiêm chủng Thế giới World Immunization Week
25/04 Ngày Sốt rét Thế giới World Malaria Day
31/05 Ngày Thế giới không thuốc lá World No-Tobacco Day
14/06 Ngày Hiến Máu Thế giới World Blood Donor Day
28/07 Ngày Viêm gan Thế giới World Hepatitis Day

UNESCO là gì? Danh sách các di sản thế giới tại Việt Nam

UNESCO là một tổ chức của Liên Hợp quốc được biết đến rộng rãi trên khắp thế giới. Ở Việt Nam, Tổ chức này cùng không còn xa lạ gì. Vậy UNESCO là tổ chức gì và chức năng nhiệm vụ của nó là gì?

UNESCO là gì?

UNESCO là tên viết tắt tiếng anh của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc. Tên đầy đủ là United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization. Đây là một cơ quan chuyên môn lớn của Liên hợp quốc. Trụ sở được đặt tại Paris, Pháp.

Mục đích của UNESCO là “thắt chặt sự hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và văn hóa để đảm bảo sự tôn trọng công lý, luật pháp, nhân quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo”. UNESCO là sự kế thừa của Ủy ban Quốc tế về hợp tác trí tuệ League of Nations.

UNESCO có 193 quốc gia thành viên và 11 thành viên liên kết. Hầu hết các văn phòng hiện tại của nó là các văn phòng khu vực bao gồm ba hoặc nhiều quốc gia.

Thành lập 16 tháng 11 năm 1945
Trụ sở Pháp Paris, Pháp
Trang web https://unesco.org/
Trực thuộc Liên Hiệp Quốc

Cờ của Únesco

UNESCO theo đuổi mục tiêu của mình thông qua năm chương trình chính: giáo dục, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội/con người, văn hóa và truyền thông/thông tin. Các dự án do UNESCO tài trợ bao gồm chương trình xóa mù chữ, kỹ thuật và đào tạo giáo viên, chương trình khoa học quốc tế, quảng bá truyền thông độc lập và tự do báo chí, các dự án lịch sử văn hóa khu vực, thúc đẩy đa dạng văn hóa, dịch thuật văn học thế giới, thỏa thuận hợp tác quốc tế bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới và bảo vệ quyền con người, cố gắng thu hẹp khoảng cách kỹ thuật số trên toàn thế giới. Đây cũng là thành viên của Nhóm Phát triển Liên Hợp Quốc.

Mục tiêu của UNESCO là “Góp phần xây dựng hòa bình, xóa đói giảm nghèo, phát triển bền vững và đối thoại liên văn hóa thông qua giáo dục, khoa học, văn hóa, truyền thông và thông tin“. Các ưu tiên khác của tổ chức bao gồm đạt được chất lượng Giáo dục cho tất cả mọi người, giải quyết các thách thức xã hội và đạo đức mới nổi, thúc đẩy đa dạng văn hóa, văn hóa hòa bình và xây dựng xã hội tri thức thông qua thông tin và truyền thông.

Lịch sử hình thành và phát triển

Việc thành lập UNESCO được đưa ra từ nghị quyết của Liên minh các quốc gia vào ngày 21 tháng 9 năm 1921, để bầu ra một Ủy ban nghiên cứu. Vào ngày 18 tháng 12 năm 1925, Văn phòng Giáo dục Quốc tế (IBE) bắt đầu hoạt động như một tổ chức phi chính phủ phục vụ phát triển giáo dục quốc tế.

Sau khi ký Hiến chương Đại Tây Dương và Tuyên bố Liên hợp quốc, Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục Đồng minh (CAME) đã bắt đầu các cuộc họp tại Luân Đôn kéo dài từ 16 tháng 11 năm 1942 đến 5 tháng 12 năm 1945. Vào ngày 30 tháng 10 năm 1943, sự cần thiết của một tổ chức quốc tế đã được thể hiện trong Tuyên bố Moscow, được Trung Quốc, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và Liên Xô đồng ý. Tiếp theo là các đề xuất của Hội nghị Dumbarton Oaks ngày 9 tháng 10 năm 1944. Theo đề xuất của CAME và theo các khuyến nghị của Hội nghị Liên hợp quốc về Tổ chức Quốc tế (UNCIO), được tổ chức tại San Francisco vào tháng 4 năm 1945, một Hội nghị của Liên hợp quốc về việc thành lập một tổ chức giáo dục và văn hóa (ECO/CONF) đã được triệu tập tại Luân Đôn ngày 1 tháng 11 năm 1945 với 44 chính phủ đại diện. Ý tưởng của UNESCO phần lớn được phát triển bởi Rab Butler , Bộ trưởng Bộ Giáo dục Vương quốc Anh. Đại hội đồng đầu tiên diễn ra từ ngày 19 tháng 11 đến ngày 10 tháng 12 năm 1946 và bầu Tiến sĩ Julian Huxley làm Tổng giám đốc.

Trong số những thành tựu chính của tổ chức đáng chú ý là hoạt động chống phân biệt chủng tộc. Năm 1956, Cộng hòa Nam Phi đã rút khỏi UNESCO và nói rằng một số ấn phẩm của tổ chức đã gây ra “sự can thiệp” vào “vấn đề chủng tộc” của đất nước. Nam Phi gia nhập lại tổ chức vào năm 1994 dưới sự lãnh đạo của Nelson Mandela.

Công việc ban đầu của UNESCO trong lĩnh vực giáo dục bao gồm dự án thí điểm về giáo dục cơ bản ở Thung lũng Marbial, Haiti, bắt đầu vào năm 1947. Dự án này được tiếp nối bởi các phái đoàn chuyên gia đến các quốc gia khác. Năm 1948, UNESCO khuyến nghị các quốc gia thành viên nên thực hiện giáo dục tiểu học miễn phí bắt buộc và phổ cập. Năm 1990, Hội nghị Thế giới về Giáo dục cho Tất cả mọi người tại Jomtien , Thái Lan, đã phát động một phong trào toàn cầu nhằm cung cấp giáo dục cơ bản cho tất cả trẻ em, thanh thiếu niên và người lớn. Mười năm sau, Diễn đàn Giáo dục Thế giới năm 2000 được tổ chức tại Dakar, Sénégal, lãnh đạo các chính phủ thành viên cam kết đạt được giáo dục cơ bản cho tất cả mọi người vào năm 2015.

Các hoạt động ban đầu của UNESCO về văn hóa là Chiến dịch Nubia, được phát động vào năm 1960. Mục đích của chiến dịch là di chuyển Đền thờ lớn Abu Simbel để giữ cho nó không bị sông Nile tràn ngập sau khi xây dựng đập Aswan. Trong chiến dịch 20 năm, 22 di tích và quần thể kiến ​​trúc đã được di dời. Đây là chiến dịch đầu tiên và lớn nhất trong một loạt các chiến dịch bao gồm Mohenjo-daro (Pakistan), Fes (Morocco), Kathmandu (Nepal), Borobudur (Indonesia) và Acropolis (Hy Lạp). Năm 1972, thông qua Công ước liên quan đến Bảo vệ Di sản Văn hóa và Tự nhiên Thế giới. Các Ủy ban Di sản Thế giới được thành lập vào năm 1976 và các trang web đầu tiên ghi trên danh sách Di sản Thế giới vào năm 1978.

Một cuộc họp liên chính phủ của UNESCO tại Paris vào tháng 12 năm 1951 đã dẫn đến việc thành lập Hội đồng nghiên cứu hạt nhân châu Âu, chịu trách nhiệm thành lập Tổ chức nghiên cứu hạt nhân châu Âu (CERN) vào năm 1954.

Lập trình Arid Zone, 194811966, là một ví dụ khác về một dự án lớn đầu tiên của UNESCO trong lĩnh vực khoa học tự nhiên. Năm 1968, UNESCO đã tổ chức hội nghị liên chính phủ đầu tiên nhằm hòa giải môi trường và phát triển, một vấn đề tiếp tục được giải quyết trong lĩnh vực phát triển bền vững. Kết quả chính của hội nghị năm 1968 là việc thành lập Chương trình Con người và Sinh quyển của UNESCO.

Trong lĩnh vực truyền thông, “luồng ý tưởng tự do bằng lời nói và hình ảnh” đã có trong hiến pháp của UNESCO từ khi bắt đầu, sau kinh nghiệm của Chiến tranh thế giới thứ hai khi kiểm soát thông tin là yếu tố thúc đẩy sự xâm lược. Trong những năm ngay sau Thế chiến II, các nỗ lực tập trung vào tái thiết và xác định nhu cầu về phương tiện truyền thông đại chúng trên toàn thế giới. UNESCO bắt đầu tổ chức đào tạo và giáo dục cho các nhà báo vào những năm 1950. Để đáp lại lời kêu gọi “Trật tự thông tin và truyền thông thế giới mới” vào cuối những năm 1970, UNESCO đã thành lập Ủy ban quốc tế về nghiên cứu các vấn đề truyền thông – Báo cáo MacBride. Cùng năm đó, UNESCO đã tạo ra Chương trình quốc tế về phát triển truyền thông (IPDC), một diễn đàn đa phương được thiết kế để thúc đẩy phát triển truyền thông ở các nước đang phát triển. Năm 1991, Đại hội đồng của UNESCO đã thông qua Tuyên bố Windhoek về độc lập truyền thông và đa nguyên, khiến Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tuyên bố ngày 3 tháng 5, là Ngày Tự do Báo chí Thế giới. Từ năm 1997, UNESCO đã trao tặng Giải thưởng Tự do Báo chí Thế giới của UNESCO / Guillermo Cano vào ngày 3 tháng 5 hằng năm.

Các tổ chức phi chính phủ của UNESCO

UNESCO có quan hệ chính thức với 322 tổ chức phi chính phủ quốc tế (NGO). Hình thức liên kết cao nhất với UNESCO là “cộng tác viên chính thức” và 22 tổ chức phi chính phủ có quan hệ liên kết chính thức (ASC) có văn phòng tại UNESCO là:

Tên viết tắt Cơ quan
IB Tú tài quốc tế
CCIVS Ủy ban điều phối dịch vụ tự nguyện quốc tế
EI Giáo dục quốc tế
IAU Hiệp hội các trường đại học quốc tế
IFTC Hội đồng quốc tế về điện ảnh, truyền hình và truyền thông nghe nhìn
ICPHS Hội đồng quốc tế về triết học và nghiên cứu nhân văn
ICSU Hội đồng khoa học quốc tế
ICOM Hội đồng bảo tàng quốc tế
ICSSPE Hội đồng khoa học thể dục và thể thao quốc tế
ICA Hội đồng lưu trữ quốc tế
ICOMOS Hội đồng quốc tế về di tích và di chỉ
IFJ Liên đoàn nhà báo quốc tế
IFLA Liên đoàn quốc tế của các hiệp hội và tổ chức thư viện
IFPA Liên đoàn thơ văn quốc tế
IMC Hội đồng âm nhạc quốc tế
IPA Hiệp hội cảnh sát quốc tế
INSULA Hội đồng khoa học quốc tế về phát triển đảo
ISSC Hội đồng khoa học xã hội quốc tế
ITI Học viện sân khấu quốc tế
IUCN Liên minh quốc tế về bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên
IUTAO Liên hiệp quốc tế của các hiệp hội và tổ chức kỹ thuật
UIA Liên hiệp các hiệp hội quốc tế
WAN Hiệp hội báo chí thế giới
WFEO Liên đoàn các tổ chức kỹ thuật thế giới
WFUCA Liên đoàn các câu lạc bộ, trung tâm và hiệp hội thế giới của UNESCO

UNESCO Việt Nam

Việt Nam có rất nhiều các di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển thế giới, di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại… đã được UNESCO công nhận.

Việt Nam có 8 di sản thế giới

2 Di sản thiên nhiên thế giới

  1. Vịnh Hạ Long được công nhận năm 1994
  2. Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng được công nhận năm 2003.
vịnh hạ long
Vịnh Hạ Long

5 Di sản văn hóa thế giới

  1. Quần thể di tích Cố đô Huế được công nhận năm 1993.
  2. Phố Cổ Hội An được công nhận năm 1999.
  3. Thánh địa Mỹ Sơn được công nhận năm 1999.
  4. Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long được công nhận năm 2010.
  5. Thành nhà Hồ được công nhận năm 2011.

1 Di sản thế giới hỗn hợp

  1. Quần thể danh thắng Tràng An được công nhận năm 2014

Việt Nam có 12 di sản văn hóa phi vật thể

  1. Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ được công nhận ngày 7/12/2017.
  2. Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam được công nhận ngày 1/12/2016.
  3. Nghi lễ Kéo co ở Việt Nam được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đa quốc gia vào ngày 02/12/2015.
  4. Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh được công nhận vào ngày 27/11/2014.
  5. Đờn ca tài tử Nam Bộ được công nhận vào ngày 5/12/2013.
  6. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được công nhận vào ngày 6/12/2012.
  7. Hát xoan (Phú Thọ) được công nhận ngày 24/11/2011.
  8. Hội Gióng tại đền Sóc và đền Phù Đổng, Hà Nội được công nhận ngày 16/11/2010.
  9. Ca trù được công nhận ngày 01/10/2009.
  10. Dân ca Quan họ được công nhận ngày 30/9/2009.
  11. Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên được công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể thế giới vào năm 2005, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
  12. Nhã nhạc cung đình Huế được công nhận tháng 11 năm 2003.

Khu dự trữ sinh quyển thế giới tại Việt Nam

  1. Rừng ngập mặn Cần Giờ được công nhận 2000.
  2. Đồng Nai được công nhận 2011.
  3. Cát Bà được công nhận 2004.
  4. Châu thổ sông Hồng được công nhận 2004.
  5. Ven biển và biển đảo Kiên Giang được công nhận 2006.
  6. Miền tây Nghệ An được công nhận 2007.
  7. Mũi Cà Mau được công nhận 2009.
  8. Cù Lao Chàm được công nhận 2009.
  9. Langbian được công nhận 2015.

Job vacancies

World Vision Vietnam invites Vietnamese competent candidates for the various positions.
Please download, complete and send the Application Form to job_application@wvi.org.
CLUSTER OFFICER IN DIEN BIEN
Written by Administrator
Friday, 15 March 2013
World Vision International – Vietnam invites Vietnamese competent candidates for the following positions:

1.    DIEN BIEN CLUSTER OFFICER – Design, Monitoring and Evaluation (DME) cum Capacity Building (1 position), work base: Dien Bien province.

2.    DIEN BIEN CLUSTER OFFICER – Education (1 position), work base: Dien Bien province.

Deadline for application: 4 April 2013.

Read more…

 

2 CÁN BỘ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG TẠI ĐIỆN BIÊN
Written by Administrator
Friday, 15 March 2013
Tổ chức Tầm Nhìn Thế Giới cần tuyển CÁN BỘ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG (02 vị trí) làm việc cho Chương trình Phát triển vùng (CTPTV) huyện Điện Biên Đông và Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên.

Hạn nộp hồ sơ: 30 tháng 03 năm 2013.

Read more…

 

CHILD HEALTH NOW (CHN) PROJECT MANAGER IN HANOI
Written by Administrator
Friday, 15 March 2013
World Vision International – Vietnam (WVV) invites Vietnamese competent candidates for the following position: CHILD HEALTH NOW (CHN) PROJECT MANAGER, work base: Hanoi.

Deadline for application: 24 March 2013.

Read more…

 

VICTIM PROTECTION PILLAR COORDINATOR – ETIP PROGRAM IN HANOI
Written by Administrator
Thursday, 14 March 2013
World Vision International – Vietnam (WVV) invites Vietnamese competent candidates for the following position: VICTIM PROTECTION PILLAR COORDINATOR – ETIP PROGRAM, work base: Hanoi.

Deadline for application: 7 April 2013. (The deadline might be shortened if suitable candidates are identified.)

Read more…

 

DEVELOPMENT FACILITATORS IN HO CHI MINH CITY
Written by Administrator
Thursday, 14 March 2013
World Vision Vietnam (WVV) invites competent Vietnamese candidates for 2 positions of Development Facilitator, based in Binh Chanh District and District 4, Ho Chi Minh city.

Deadline for application: 31 March 2013.

Read more…

 

CHILD PROTECTION PROJECT OFFICER IN YEN BAI
Written by Administrator
Tuesday, 12 March 2013
World Vision Vietnam (WVV) invites competent Vietnamese candidates for the position Child Protection Project Officer, based in Yen Binh district, Yen Bai province

Deadline for application: 25 March 2013.

Read more…

 

ADP MANAGER IN THANH HOA
Written by Administrator
Monday, 11 March 2013
World Vision International – Vietnam (WVV) invites Vietnamese competent candidates for the following position: MANAGER working for the Area Development Program (ADP) in Quan Hoa district, Thanh Hoa province.

Deadline for application: 5 April 2013.

Read more…

 

2 DEVELOPMENT FACILITATORS IN BINH THUAN
Written by Administrator
Monday, 04 March 2013
World Vision Vietnam (WVV) invites competent Vietnamese candidates for 2 positions of Development Facilitator, based in Ham Thuan Bac District, Binh Thuan Province.

Deadline for application: 15 March 2013.

Read more…

 

MICRO FINANCE OPERATION MANAGER IN HANOI
Written by Administrator
Monday, 04 March 2013
World Vision International – Vietnam (WVV) invites Vietnamese competent candidates to apply for for the position: MICRO FINANCE OPERATION MANAGER (QUẢN LÝ VẬN HÀNH BAN TÀI CHÍNH VI MÔ), work base: Hanoi.

Deadline for application: 18  March  2013.

Read more…

 

NATIONAL CONSULTANT FOR END TRAFFICKING IN PERSONS (ETIP) PROGRAM
Written by Administrator
Thursday, 28 February 2013
World Vision International – Vietnam (WVV) invites Vietnamese competent candidates for the following position: NATIONAL CONSULTANT FOR END TRAFFICKING IN PERSONS (ETIP) PROGRAM.

Deadline for application: 17 March 2013.
The deadline could be shortened if suitable candidates are identified.

Read more…

Special Project Officer in Hoa Binh

World Vision International – Vietnam (WVV) invites Vietnamese competent candidates for the following position: SPECIAL PROJECT OFFICER (Renewable Energy and Energy Efficiency Partnership – REEEP), work base: Lac Son or Yen Thuy district, Hoa Binh province.

Deadline for application: 5 May 2013.

World Vision is a Christian relief and development organisation working to create lasting change in the lives of children, families and communities living in poverty. World Vision serves all people regardless of religion, race, ethnicity or gender. As a child-focused organization, WV’s work focuses on children, ensuring they are protected and their basic needs are met. WVV has a total income of more than USD22,000,000 (FY12) with funding from 16 support countries in Europe, Asia, the Americas and Australia. WVV employs about 400 staff.

Area Development Program (ADP) is a 10-15 year community development program that is an integrated approach to community development, emphasizing the process of community participation, ownership and sustainability, while addressing the macro and micro causes of poverty. WVV’s ADP’s are located in diverse geographic locations: from remote mountainous ethnic minority communities, to the Red River Delta and to the urban slums of Ho Chi Minh City.

“Sustainable Business Model to Deliver Renewable Energy to Rural Villages in Vietnam” Project is a new project supported by WVV that is expected to create a sustainable business model for using renewable energy and energy efficiency in ethnic communities in Yen Thuy and Lac Son, Hoa Binh, then in other areas in Vietnam. The model will be implemented in the two districts to enable testing and revision to ensure it is sustainable and overcomes challenges of delivering reliable energy to isolated villages with diverse topographies. Energy will be generated primarily through micro hydro where possible, or solar or biogas. Distribution of electricity will be through a local micro-grid with community level schools acting as the central point, with households connected from there. This arrangement will enable schools and households to utilize a higher proportion of electricity when they need it most (schools during the day – households in the evening).

The model will also include a pathway for the integration of the micro-system into the main electricity grid through arrangements with the Provincial Government to ensure compliance with policies and regulations. This will facilitate scale up of the micro-system model to communities in Vietnam in the future. It will incorporate a user pays system managed by a newly established community-controlled entity along with local electricity supply grid management groups. It will also look to link in energy efficient appliances such as very efficient electric rice cookers and improved wood stoves to broaden the energy benefits of the renewable energy system.

Purpose of the position:

The positions assist the Project Manager and ADP managers in design, implementation, M&E of activities of the A Sustainable Business Model to deliver renewable energy to rural villages in Vietnam, within goal, outcomes, and outputs in the project design document and annual/quarterly plans.

Knowledge, Skills and Attitude Required:

  • Bachelor degree on Environmental Sciences/Management, Energy or related fields
  • Sound understanding on Renewable and Clean Energy Technologies
  • Sound understanding on Environmental Protection Policies of Vietnam
  • Sound project planning, management, monitoring and evaluation skills.
  • Good community mobilization skills, including networking/coordination among different stakeholders, especially local partners.
  • Good training and group facilitation skills
  • Strong command of report writing in Vietnamese
  • Good report writing and reading skills in English
  • Good computer skills in Word, Excel, Power point and email.
  • A good team player
  • Ability to travel to the targets communes and live in a rural setting.
  • A minimum of 02 years’ experience working in Renewable and Clean Energy/Environment and development field.

Download Job Description of this vacancy.

World Vision Vietnam is a Christian non-government organization. Applicants having working experience in a similar kind of organization will be an advantage.

Application documents include:

  • Detailed Curriculum Vitae
  • Application Form (following WVV’s standard Application Form)

For WVV Application Form and the detailed job description for this position, interested candidates are invited to visit World Vision Vietnam’s website: www.worldvision.org.vn, or contact:
People & Culture Department
World Vision International – Vietnam
Address: 4th floor, the HEAC building, 14-16 Ham Long street, Hanoi
Tel: 04. 39439920 (ext.114).
Email: job_application@wvi.org